
Để đảm bảo công bằng, minh bạch, nên cho phép người sử dụng lao động
và người lao động khởi kiện ra tòa án về tranh chấp lao động
Nghiên cứu toàn văn Dự thảo Luật và Tờ trình Chính phủ của Bộ
LĐ-TB-XH, tôi xin kiến nghị nên đổi tên Luật Lao động thành Luật bảo vệ
người lao động VN.
Một là, Tờ trình Chính phủ của Bộ LĐ-TB-XH đã không nêu một hạn chế
lớn nhất, gây rất nhiều khó khăn cho các DN, doanh nhân – Người sử dụng
lao động, đó là Luật Lao động hiện hành đã bảo vệ quá mức đối với người
lao động.
Những quy định bảo vệ quá đáng của Luật Lao động là nguyên
nhân chính dẫn đến tình trạng nhảy việc phổ biến và tùy tiện của người
lao động, gây ra sự thiếu ổn định về nhân lực đối với các DN. Nghiêm
trọng hơn, không ít trường hợp người lao động còn bỏ việc đột ngột, đem
theo những bí mật kinh doanh, tiền và tài sản của DN để cung cấp cho
đối tác cạnh tranh. Vì vậy, mục tiêu “xây dựng quan hệ lao động lành
mạnh, hài hòa” đã không thực hiện được.
Hai là, dường như khi soạn Dự thảo Luật, cơ quan soạn thảo và các cơ
quan quản lý nhà nước đã đặt các DN, doanh nhân vào phía “đối lập”, là
lực lượng chỉ biết làm giàu thông qua việc bóc lột người lao động và do
đó phải quản lý, kiểm soát thật chặt chẽ.
Đó là quan niệm hoàn toàn sai
lầm.
Các chủ DN – doanh nhân VN, hơn ai hết, đã nhận thức sâu sắc rằng,
lực lượng lao động có trình độ chuyên môn cao và ổn định là điều kiện
quan trọng nhất để DN phát triển ổn định và bền vững. Tất nhiên, không
loại trừ một số trường hợp ở đâu đó vẫn còn những quan hệ không thỏa
đáng giữa người sử dụng lao động và người lao động. Song, nếu chỉ căn
cứ vào một vài hiện tượng xấu để đặt đội ngũ doanh nhân vào vị trí phải
kiểm tra, kiểm soát nghiêm ngặt, khắt khe sẽ khiến những hành vi vi
phạm pháp luật của người lao động bùng phát.
Ba là, Dự thảo Luật đã làm cho sự bất bình đẳng giữa người sử dụng
lao động và người lao động ngày càng nghiêm trọng hơn.
Một trong những
quan điểm sửa đổi Luật Lao động được Bộ LĐ-TB - XH nêu trong Tờ trình
Chính phủ là “Bảo vệ người lao động, đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của người sử dụng lao động”. Song, mọi quyền của người sử dụng
lao động đều bị giới hạn trong phạm vi “ theo quy định của pháp luật
lao động”.
Trong khi đó, theo Luật Lao động hiện hành và Dự thảo Luật
phần lớn quyền của người sử dụng lao động đều bị triệt tiêu.
Theo Dự thảo Luật, trách nhiệm của người sử dụng lao động được quy
định rất chi tiết và không ít quy định vô lý. Xin nêu một số ví dụ
chứng minh như sau:
Dự thảo Luật có 17 chương và 271 điều. Quy định về trách nhiệm của
người sử dụng lao động xuất hiện khá dày đặc.
Các cụm từ “Người sử dụng
lao động phải...”, “Người sử dụng lao động có trách nhiệm...”, “ Người
sử dụng lao động không được...” xuất hiện ít nhất tới 72 lần trong toàn
văn dự thảo.
Điều đó chứng tỏ, tuy được gọi là “Luật Lao động” những
luật này chủ yếu để giám sát người sử dụng lao động. Một sự bất bình
đẳng thể hiện xuyên suốt văn bản luật thì mục tiêu “hướng dẫn hai bên
(người sử dụng lao động và người lao động) xây dựng quan hệ lao động
mới, hài hòa và ổn định vì sự phát triển của DN và sự phồn vinh của đất
nước” như trong Tờ trình của Bộ LĐ-TB-XH có lẽ là... ước mơ xa!
Hơn nữa, Điều 10 của Dự thảo Luật quy định về các hành vi bị nghiêm
cấm.
Sáu hành vi bị nghiêm cấm ở điều này là cấm đối với người sử dụng
lao động và những điều cấm đó hoàn toàn đúng. Song, quan hệ lao động
bao giờ cũng có hai bên: Người sử dụng lao động và người lao động.
Câu
hỏi đặt ra là: Tại sao Luật chỉ quy định những điều cấm đối với người
sử dụng lao động mà không quy định những điều cấm đối với người lao
động ?
Đặc biệt, tổ chức đại diện của người lao động gồm Công đoàn và ở
những DN chưa có tổ chức Công đoàn được quy định khá đầy đủ. Song, tổ
chức đại diện người sử dụng lao động lại được đề cập rất mờ nhạt. Theo
kinh nghiệm quốc tế và quan điểm của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO),
rất cần có một Tổ chức đại diện cho người sử dụng lao động. Vì sao Dự
thảo Luật né tránh điều này ?
|
Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội (LĐ-TB -XH) – cơ quan chủ trì – đã
hoàn thành Dự thảo Luật Lao động (sửa đổi) và dự kiến sẽ trình Quốc hội
thông qua trong thời gian tới. Dự thảo lần này thay thế Bộ Luật Lao
động ban hành ngày 23/6/1994 và đã được sửa đổi, bổ sung ba lần vào các
năm 2002, 2006 và 2007. |
Về trợ cấp
thôi việc, khoản 1 điều 55 của Dự thảo Luật quy định:
“Khi người lao
động đã làm việc thường xuyên trong DN từ đủ 12 tháng trở lên chấm dứt
hợp đồng lao động đúng pháp luật thì người sử dụng lao động có trách
nhiệm chi trả trợ cấp thôi việc…”.
Quy định như trên là vô lý khi việc
chấm dứt hợp đồng lao động do người lao động quyết định. Chẳng hạn, khi
hết hạn hợp đồng, người sử dụng lao động muốn ký tiếp nhưng người lao
động từ chối hoặc khi người lao động đưa ra một lý do vu vơ để xin thôi
việc đúng luật...
Quy định như trên phải chăng khuyến khích hành vi
“nhảy việc” của người lao động. Vì vậy, xin đề nghị quy định lại chỉ
những trường hợp người sử lao động chủ động chấm dứt hợp đồng lao động
đúng luật thì người sử dụng lao động mới phải trả trợ cấp thôi việc.
Điều 119 Dự thảo Luật quy định
"Người sử dụng lao động có quyền huy
động người lao động làm thêm giờ nhưng phải thực hiện các yêu cầu sau:
1. Được sự đồng ý của người lao động…”.
Quy định như trên thực chất là
xóa bỏ quyền huy động làm thêm giờ của người sử dụng lao động và không
khả thi trong thực tế. Bởi lẽ, khi công việc đòi hỏi cấp bách, ai có
thể đi xin ý kiến từng người lao động trước khi quyết định yêu cầu làm
thêm giờ ?
Khoản 1 Điều 143 về bồi thường do làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị quy
định:
“Người lao động làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị hoặc có hành vi
khác gây thiệt hại cho tài sản của DN thì phải bồi thường theo quy định
của pháp luật về thiệt hại đã gây ra.
rường hợp do sơ suất mà gây
thiệt hại không quá 10 tháng lương tối thiểu chung do Chính phủ quy
định, thì người lao động phải bồi thường nhiều nhất là ba tháng
lương…”.
Quy định như trên chẳng lẽ... “bật đèn xanh” cho người lao
động tự do làm hư hỏng tài sản của DN !
Về giải quyết tranh chấp lao động, mục I Chương XIV Dự thảo Luật quy
định về nguyên tắc và tổ chức giải quyết tranh chấp lao động.
Câu hỏi
được đặt ra là, vì sao việc giải quyết tranh chấp lao động lại chỉ
thông qua hòa giải ? Tại sao một tranh chấp giữa người sử dụng lao động
và người lao động lại không được khởi kiện ra tòa án ?
Không ai phủ
nhận hiệu quả của việc giải quyết tranh chấp thông qua hòa giải. Song,
đó không thể và không phải là biện pháp duy nhất. Để đảm bảo sự công
bằng, khách quan, minh bạch, nên cho phép người sử dụng lao động và
người lao động khởi kiện ra tòa án về tranh chấp lao động.
Những vấn đề nêu trên chỉ là ví dụ điển hình. Trong Dự thảo Luật
còn rất nhiều nội dung chứng tỏ rằng, Luật Lao động bảo vệ người lao
động còn người sử dụng lao động - một trong hai đối tượng lẽ ra cũng
được luật bảo vệ. Thiết nghĩ, đã đến lúc cần rõ ràng, sòng phẳng ngay
trong văn bản luật. Không thể có một bộ Luật xử lý một cách hài hòa lợi
ích của hai bên là người lao động và người sử dụng lao động. Vì vậy,
đổi tên Luật Lao động thành Luật bảo vệ người lao động và triển khai
xây dựng Luật bảo vệ người sử dụng lao động là hợp lý hơn cả.
Luật gia Vũ Xuân Tiền -
Chủ tịch Hội đồng thành viên Cty TNHH tư vấn VFAM VN