Ngày 19.9.2008, người lãnh đạo Vedan đứng cúi đầu
trước báo chí: “Tôi thành thật xin lỗi công luận và xã hội Việt Nam vì
hành vi vi phạm của chúng tôi suốt 14 năm qua”.
Nhưng Vedan nói vậy mà
không làm vậy. Họ đã cò kè mặc cả mức đền bù bèo bọt cho hàng ngàn nông
dân trong một động thái “câu giờ”.
Về phần mình, bộ trưởng bộ Tài
nguyên và môi trường Phạm Khôi Nguyên đã phải thốt lên ngày 28.7 vừa
qua, tức gần hai năm sau khi xảy ra vụ Vedan: “Chúng ta đã hết tình,
hết nghĩa với Vedan. Công ty này không chấp nhận thì đành phải dùng đến
lý.”
Có lẽ, ban lãnh đạo Vedan đã câu giờ thành công đến hết thời hạn
nộp đơn kiện, nếu không có các luật sư tình nguyện, các cá nhân nông
dân dũng cảm và chính quyền TP.HCM, Bà Rịa – Vũng Tàu quyết tâm “mang”
Vedan ra toà.
Tại
văn phòng luật của mình ở TP.HCM, luật sư Nguyễn Văn Hậu nghiên cứu hồ
sơ – đơn kiện của các hộ nông dân, ngư dân huyện Cần Giờ. Ảnh: Lê Quang Nhật
|
Vì sao một Vedan từng đầu độc sông Thị Vải, phá huỷ
hiện tại của những người dân sinh sống hai bên và làm thui chột tương
lai của con cháu họ lại có thể bình chân cò kè mặc cả trong suốt hai
năm qua?
Vì sao chúng ta phải dùng đến “tình” chứ không phải “lý” trong
cách cư xử với công ty này?
Rõ ràng, đã có những khe hở trong luật pháp
cũng như những bao biện, kiểu như của lãnh đạo tỉnh Đồng Nai, nên doanh
nghiệp này mới có thể làm thế.
Vedan tiến hành xây dựng nhà máy ở Đồng Nai từ năm
1991, tức chỉ vài năm sau khi Việt Nam ban hành luật Đầu tư nước ngoài
và tiến hành đổi mới.
Thời điểm đó, bộ luật này được xây dựng với tinh
thần thông thoáng để mời gọi các dự án FDI đang rất cần cho phát triển.
Vì lẽ đó, đã có nhiều điều kiện ưu đãi, đặc biệt là về đất đai và tiêu
chuẩn môi trường cho các dự án nói trên.
Vedan đã được hưởng trọn vẹn
tinh thần đó, và họ cũng đã lạm dụng ưu đãi ấy, như một sự tất yếu.
Bên cạnh đó, Luật Bảo vệ môi trường được thông qua năm
2005 đã đóng vai trò rất mờ nhạt trong vụ Vedan. Không có một điều
khoản nào được áp dụng, hay trích dẫn, để xử lý công ty này trong suốt
thời gian qua.
Những ưu đãi, chiều chuộng trong bối cảnh luật pháp
không tường minh và nghiêm túc hẳn là lý do cho hành vi và thái độ của
Vedan.
Dù thế nào đi nữa, kết cục chỉ có một: những người dân sống xung
quanh dòng sông Thị Vải là nạn nhân của Vedan, thay vì người hưởng lợi,
trong sự phát triển của công ty này.
Bộ trưởng Phạm Khôi Nguyên từng nói những lời rút
ruột: “Tôi thấy đơn độc vì ít người chia sẻ”.
Nhưng phản ứng của công
luận gần đây cho thấy, ông đang được ủng hộ.
Họ ủng hộ ông không chỉ
trong vụ Vedan, mà còn vì môi trường sống của chính mình. Nhiều dòng
sông ở đồng bằng Bắc bộ và Nam bộ đã và đang chết đi bởi ô nhiễm công
nghiệp. Đó là hậu quả của một não trạng từng thống trị một thời là thu
hút FDI bằng mọi giá, công nghiệp bằng mọi giá.
Việc bộ trưởng có thể
làm nhân cơ hội này, có lẽ là thống nhất những tiêu chuẩn bảo vệ môi
trường nghiêm khắc hơn với bộ Kế hoạch và đầu tư trong các dự án đầu
tư. Ít nhất, những động thái đó có thể giúp ngăn chặn những “Vedan tiềm
năng” sẽ đến cùng với làn sóng FDI vào Việt Nam hiện nay và thời gian
tới.
Vụ Vedan, vì lẽ đó, nên được xem là án lệ.
Dù là thoả
hiệp để chấp nhận đền bù hay mang ra toà, cũng không thể “cân nhẹ” họ.
Điều đó sẽ cảnh báo để các nhà sản xuất tôn trọng môi trường hơn.
Môi
trường đã trở thành vấn đề thực sự nghiêm trọng, và hơn lúc nào hết,
quan điểm đầu tư vào hiện tại bằng tương lai, hy sinh môi trường cho
tăng trưởng phải chấm dứt.