Thành
lập công ty mua bán nợ xấu với số vốn 100.000 tỷ đồng là đề xuất của
Ngân hàng Nhà nước nhằm giải quyết nợ xấu của hệ thống ngân hàng.
Liệu
các khoản nợ đó có được giải quyết?
Một trong những trọng
tâm của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2012 là tái cấu trúc hệ thống
ngân hàng, để nó trở nên lành mạnh, hoạt động hiệu quả hơn.
Muốn làm
được điều đó thì trước tiên khối nợ xấu khổng lồ của hệ thống hiện nay
phải được giải quyết.
Băn khoăn công ty mua bán nợ
Mới đây, Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình cho biết: Tỷ lệ nợ xấu của hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam đã lên đến 10% tổng số tiền cho vay.
Mức
này hầu như tương đương với dự báo của các tổ chức nước ngoài.
Tính đến
hết năm 2011, tổng số tiền ngân hàng cho các doanh nghiệp vay vào khoảng
2.580.000 tỷ đồng. Với tỷ lệ nợ xấu là 10% thì con số tuyệt đối sẽ vào
khoảng 258.000 tỷ đồng, trong đó nợ có khả năng mất luôn chiếm đến 50%.
Nợ xấu một phần đến từ các khoản đầu tư ngoài ngành của doanh nghiệp
quốc doanh, mà Tập đoàn Công nghiệp Tàu thủy Việt Nam (Vinashin) là một
ví dụ điển hình.
Hơn nữa, nợ xấu còn xuất hiện một phần vì không ít ngân
hàng trong một thời gian dài đã cho vay những khoản tiền khổng lồ,
"giúp" nhiều doanh nghiệp cả công lẫn tư, "chơi" chứng khoán hoặc xây
dựng chung cư, thực hiện các dự án phân lô, chuyển nhượng nền nhà.
Để giải quyết nợ xấu,
đã có ý kiến đề xuất thành lập công ty mua bán nợ với số vốn 100.000 tỷ
đồng.
Tuy nhiên, công ty kiểu này sẽ được tổ chức ra sao, công tác mua
bán nợ sẽ được giải quyết như thế nào, tiêu chí để mua lại nợ gồm những
gì?
Có lẽ trước hết cần phải thẩm định giá trị thực của nợ xấu.
Tùy vào
loại nợ: cực xấu, xấu vừa, xấu... mà mua từ 10%, 20% đến 50% là tối đa.
Thậm chí có thể nếu cực kỳ xấu thì không mua, để cho công ty có loại nợ
như thế phá sản và đương nhiên, ngân hàng phải chấp nhận chịu thiệt thay
vì lúc nào cũng có lời.
Chỉ tính riêng 12 tập
đoàn, tổng công ty quốc doanh không thôi thì đã có nợ xấu đến 218.738 tỷ
đồng (số liệu do Bộ Tài chính công bố trong đề án "Tái cơ cấu doanh
nghiệp nhà nước").
Một điểm nữa được báo chí mổ xẻ nhiều trong thời gian
gần đây là lấy đâu ra vốn cho công ty này?
Nếu do Nhà nước cấp, Ngân
hàng Nhà nước quản lý, nhưng lại không được tổ chức một cách minh bạch
thì có thể tiền của sẽ bị lợi dụng làm lợi cho các nhóm lợi ích, dễ nảy
sinh việc xin - cho. Nếu công ty hoạt động không tốt thì ngân sách nhà
nước lại phải gánh khoản lỗ của chính công ty này.
Vì vậy, để phát huy
hiệu quả, công ty mua bán nợ nên nằm ngoài hệ thống ngân hàng và hoạt
động một cách minh bạch.
Hơn nữa, nếu hai ngân hàng vì quyền lợi của
nhau mà bán nợ cho nhau, không vì quyền lợi chung, thì nợ xấu vẫn nằm
trong hệ thống ngân hàng, chỉ chuyển từ nơi này sang nơi khác.
Nếu có
một công ty mua bán nợ nằm ngoài hệ thống ngân hàng, "đẩy" tất cả nợ xấu
ra khỏi hệ thống ngân hàng thì sẽ tránh được hiện tượng này.
Để công ty mua bán nợ
có thể hoạt động một cách chuyên nghiệp, theo cơ chế thị trường thì nó
phải do tư nhân - chủ yếu là ngân hàng tư nhân - bỏ vốn thành lập; các
ngân hàng không muốn góp vốn thì sẽ không được xử lý nợ xấu.
Chính phủ
chỉ nên tạo điều kiện thêm bằng cách góp từ 20 - 30% vốn, không trực
tiếp đứng ra chủ trì và gánh nợ xấu.
Theo ông Nguyễn Trí Hiếu, một
chuyên gia tài chính, kinh nghiệm xử lý nợ xấu của Mỹ, Trung Quốc và
Nhật cũng có thể là những tham khảo tốt cho Việt Nam.
Chính phủ Mỹ,
thông qua Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), đã mạnh tay bơm vốn để cứu ngân
hàng, nhưng lại không can thiệp sâu vào công tác điều hành ngân hàng.
Chính phủ Trung Quốc thì xóa nợ xấu cho doanh nghiệp quốc doanh.
Trong
khi đó Chính phủ Nhật lại để các ngân hàng quá yếu kém phải sụp đổ.
Năm
2008, cuộc khủng hoảng tài chính Phố Wall ở Mỹ bắt đầu.
Để giải cứu các
ngân hàng bên bờ vực phá sản, FED đã phải bỏ ra 700 tỷ USD.
Một phần
lượng tiền này được sử dụng để mua lại nợ xấu của các ngân hàng thương
mại.
Một phần nhằm giải quyết tiền mặt tạm thời cho các ngân hàng yếu
kém và phần còn lại để mua cổ phiếu ưu đãi của các ngân hàng. FED chỉ sở
hữu cổ phiếu ưu đãi nên không được tham gia điều hành ngân hàng, tạo cơ
hội tốt cho các ngân hàng tự tái cơ cấu.
Còn
tại Trung Quốc, vào cuối năm 1999, đầu năm 2000, nợ dưới chuẩn thực tế tại
nhiều ngân hàng thậm chí đã vượt 40% tiền cho vay. Một yếu tố giúp Chính phủ
Trung Quốc thành công là xử lý triệt để các khoản nợ xấu, trong đó nợ của doanh
nghiệp quốc doanh chiếm tới 70%.
Khi đó, chính phủ nước này đã thành lập 4 công
ty quản lý tài sản để xử lý toàn bộ nợ dưới chuẩn, ước tính lên tới 670 tỷ nhân
dân tệ.
Chính phủ Trung Quốc cũng chi 40 tỷ nhân dân tệ để xóa nợ cho doanh
nghiệp quốc doanh và tái cấp vốn cho các ngân hàng thương mại bằng cách phát
hành trái phiếu chính phủ.
Đầu
những năm 2000, nợ xấu của các ngân hàng Nhật đã lên đến hàng ngàn tỷ yên do
bong bóng bất động sản bùng nổ.
Bước đầu, chính phủ Nhật đã bơm hàng nghìn tỷ
yên vào các ngân hàng lớn và thành lập hàng loạt quỹ đầu tư có vốn góp tư nhân để
mua lại nợ xấu. Tuy nhiên, cả hai cách này đều không có tác dụng nhiều.
Cuối
cùng, chính phủ nước này đã quyết định quốc hữu hóa nhiều ngân hàng, để cho các
ngân hàng yếu kém tự sụp đổ và đã thành công.
Cần thêm chính sách
Theo
ông Tomoyuki Kimura, Giám đốc quốc gia Ngân hàng Phát triển châu Á tại Việt
Nam, để hạn chế nợ xấu cũng như xử lý nợ xấu một cách hiệu quả nhất thì khi cho
vay, các ngân hàng thương mại phải kiểm soát mục đích sử dụng các khoản vay của
doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cũng phải trích lập dự phòng cho các khoản phải
thu khó đòi.
Ông cũng gợi ý chuyển nợ thành vốn góp gắn với tái cấu trúc doanh
nghiệp.
"Chuyển nợ thành vốn góp là thực hiện một số giải pháp nhằm tái
cấu trúc doanh nghiệp như xóa một phần nợ và lãi, hoãn trả nợ, thay đổi thời
gian trả nợ, hỗ trợ về thị trường, công tác quản trị, hỗ trợ về tài chính như
cho vay, bảo lãnh… nhằm phục hồi doanh nghiệp từ chỗ thua lỗ, mất khả năng
thanh toán trở thành doanh nghiệp kinh doanh có lãi và hiệu quả", ông nói.
Một biện pháp khác là đảo nợ, tức cho vay nợ mới để trả nợ cũ, hay tái cơ cấu
các khoản nợ. Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích mà giải pháp này mang lại cho
doanh nghiệp và ngân hàng, nó cũng ẩn chứa nhiều rủi ro.
Cho dù sử dụng biện pháp nào để xử lý nợ xấu - thành lập
công ty mua bán nợ, chuyển nợ thành vốn góp hay đảo nợ - thì cũng cần phải cân
nhắc thật kỹ rồi thực hiện một cách minh bạch.