Sau khi cuốn sách "Dấu ấn Việt
Nam trên Biển Đông" được phát hành, mạng phát thanh Trung Quốc ngày 10/8 đưa tin
về ấn phẩm này của TS Trần Công Trục cùng những bình luận của một số học giả
Trung Quốc theo hướng không đồng tình một số điểm chủ chốt.
VietNamNet hỏi rõ TS Trần Công
Trục về những lập luận của học giả Trung Quốc có hướng trái chiều với quan điểm,
luận cứ nghiên cứu của ông:
Yêu sách chủ quyền không thể
dựa vào yếu tố lịch sử
Mạng tin này nói, trong
cuốn sách, ông Trần Công Trục cho rằng cần sử dụng "Công ước của LHQ về Luật
biển 1982" để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông.
Tuy nhiên, Viện trưởng “Viện
nghiên cứu Nam Hải" Trung Quốc Ngô Sĩ Tồn cho rằng không thể áp dụng Công ước để
giải quyết vấn đề quy thuộc lãnh thổ.
Ông nhận xét thế nào về lập luận của ông
Tồn - người từng là thành viên đàm phán với ông trong vấn đề Vịnh Bắc Bộ nhiều
năm trước?
Trước hết tôi mừng vì những
nghiên cứu của mình nhận được phản hồi từ giới khoa học Trung Quốc, từ ông Tồn -
người từng là thành viên đoàn đàm phán của Chính phủ Trung Quốc với Việt Nam về
phân định Vịnh Bắc Bộ.
Song tôi không hiểu vì lý do gì
mà nội dung của cuốn sách do tôi làm chủ biên đã không đến được với một số
bạn đọc Trung Quốc một cách đầy đủ, chính xác.
Phải chăng họ chưa có điều kiện
để đọc hết hay do dịch thuật, hay do một lý do, động cơ nào đó nên mới có những
nhận xét chủ quan như vậy.
Với những ai đã có chút hiểu biết và kinh nghiệm
trong quá trình tham gia nghiên cứu hay đàm phán về biên giới lãnh thổ thì không
thể có sự nhầm lẫn đó được.

Nguyên Trưởng Ban Biên giới
Chính phủ Trần Công Trục:
Nguyên tắc “chiếm hữu thật sự” có giá trị pháp lý cao
nhất để xem xét giải quyết tranh chấp lãnh thổ
Đúng, thật là “hoang đường” nếu
dựa vào Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 để bảo vệ cho yêu sách chủ quyền
lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Như mọi người đã biết,
trong khu vực Biển Đông đang tồn tại hai loại tranh chấp chủ yếu:
Tranh chấp về
chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và
tranh chấp về ranh
giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn.
Về tranh chấp chủ quyền lãnh thổ
đối với quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, tôi đã nói kỹ loại tranh chấp này phải
được giải quyết theo nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế mà từ trước
đến nay đã được thừa nhận và áp dụng rộng rãi trên trường quốc tế.
Theo quan
điểm của tôi, hiện nay, nguyên tắc “chiếm hữu thật sự” có giá trị pháp lý cao
nhất, được vận dụng nhiều nhất để xem xét giải quyết mọi tranh chấp lãnh thổ.
Nguyên tắc "chiếm hữu thực sự" là
gì?
Đó là việc chiếm hữu phải do Nhà nước thực hiện đối với vùng lãnh thổ vô
chủ, hoặc vùng đất đã bị bỏ hoang bởi một nước trước đây đã chiếm hữu. Việc
chiếm hữu đó phải thật sự, liên tục, hòa bình, không được phép dùng quân sự và
rõ ràng, là nó phải được công bố cho mọi người biết.
Lập luận của Trung Quốc lâu nay
là theo nguyên tắc "chủ quyền lịch sử".
Họ nói người Trung Quốc đã từng đến đây,
phát hiện ra quần đảo này, đặt tên, vẽ bản đồ, từ thời kỳ Đông Hán…
Nhiều học
giả quốc tế đã từng cảnh báo rằng nếu sử dụng các sự kiện lịch sử được ghi chép
trong các tài liệu lịch sử, địa lý… khác nhau để xem xét quyền thụ đắc lãnh thổ
hay giải quyết các yêu sách chủ quyền lãnh thổ thì thế giới này sẽ có rất nhiều
đảo lộn.
Nếu dùng lịch sử thì Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, hay Anh… cũng có quyền
đòi tất cả các vùng đảo, vùng biển mà họ đã từng đi qua hay đặt chân tới.
Cho nên, không thể dựa vào yếu tố
lịch sử, danh nghĩa lịch sử để bảo vệ cho yêu sách chủ quyền lãnh thổ đối với
các quần đảo ở giữa Biển Đông, và càng không thể sử dụng danh nghĩa lịch sử để
đưa ra yêu sách biên giới biển hình "lưỡi bò” và tìm cách hợp thức hóa yêu sách
đó, bất chấp mọi tiêu chuẩn rõ ràng của luật pháp và thực tiễn quốc tế.
Trong cuốn sách, chúng tôi đã
cung cấp thông tin và trình bày một cách rõ ràng, cụ thể về quá trình xác lập
chủ quyền của Nhà nước Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa.
Bạn đọc có
thể nhận thấy một thực tế là:
Nhà nước Việt Nam là nhà nước đầu tiên trong lịch
sử đã chiếm hữu và thực thi chủ quyền đối với hai quần đảo này từ khi chúng còn
là đất vô chủ.
Việc chiếm hữu này là thực sự, rõ ràng, liên tục, hòa bình, phù
hợp các nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế.
Việt Nam có đầy đủ cơ sở
pháp lý, các cứ liệu lịch sử có giá trị pháp lý để chứng minh chân lý này.
Bạn đọc có thể tận mắt xem xét
các sắc lệnh, chiếu chỉ, những quyết định hành chính thành lập các đơn vị hành
chính của Nhà nước Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử, các phản đối hành vi vi
phạm của các nước khác đối với hai quần đảo của Việt Nam.
Tất cả rất rõ ràng,
với các sự kiện liên tục, và đó là những bằng chứng có giá trị.
Việc chiếm hữu
chí ít từ thế kỷ 17, từ thời kỳ chúa Nguyễn cho đến hiện nay.
"Nguyên tắc công bằng"
Ông có thể giải thích quan
điểm dùng Công ước Luật biển 1982 để giải quyết tranh chấp ở Biển Đông như đề
xuất?
Công ước Luật biển năm 1982 là cơ
sở pháp lý để giải quyết tranh chấp ranh giới các vùng biển và thềm lục địa giữa
các quốc gia ven biển kế cận hoặc đối diện nhau.
Tôi xin nhắc lại, Công ước Luật
biển không phải là căn cứ pháp lý để xem xét và giải quyết các tranh chấp về
lãnh thổ quốc gia.
Công ước của LHQ về Luật Biển đã
quy định rất rõ ràng về nội dung này.
Điều 15 của Công ước nêu:
“Khi hai quốc
gia có bờ biển kề nhau hoặc đối diện nhau, không có quốc gia nào được quyền mở
rộng lãnh hải ra quá đường trung tuyến mà mọi điểm nằm trên đó cách đều các điểm
gần nhất của các đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải của mỗi quốc gia,
trừ khi có thỏa thuận ngược lại…”.
Đối với việc hoạch định ranh giới
vùng đặc quyền về kinh tế, điều 74 Công ước đã quy định:
“Việc hoạch định ranh
giới vùng đặc quyền về kinh tế giữa các quốc gia có bờ biển tiếp liền hay đối
diện nhau được thực hiện bằng con đường thỏa thuận theo đúng với pháp luật quốc
tế như đã nêu ở điều 38 của Quy chế Tòa án quốc tế, để đi đến một giải pháp công
bằng”.
Nôm na thường gọi là theo “nguyên tắc công bằng”.
Rõ ràng như vậy, những người làm
công tác nghiên cứu hay quản lý biển không được phép hiểu nhầm hoặc cố tình giải
thích sai lệch.
Nên nhớ rằng một khi đã là thành viên của Công ước thì nhất
thiết phải tuân thủ toàn bộ nội dung của Công ước này.
Đó là điều kiện tiên
quyết giúp cho các bên liên quan có thể đàm phán giải quyết được tranh chấp về
ranh giới biển.
Nếu đưa yêu sách không dựa vào
các quy định của Công ước như đường biên giới biển hình “lưỡi bò”, thì chắc chắn
sẽ không đi đến bất kỳ một kết quả công bằng nào.
Chúng ta đã có khá nhiều bài học
trong thực tiễn đàm phán phân định ranh giới các vùng biển trong khu vực Biển
Đông cần được nghiêm túc học tập, xem xét, áp dụng.
Tính khoa học, khách quan và
sự cầu thị của các bên liên quan trong đàm phán là phẩm chất quan trọng nhất để
có thể đi đến thành công.
Mạng Phát thanh còn dẫn lời Phó Chủ nhiệm Trung tâm nghiên cứu Đông
Nam Á thuộc Viện Khoa học xã hội Trung Quốc Hứa Lợi Bình cho rằng chính phủ nhà
Thanh đã thực hiện quản lý hành chính đối với các đảo ở Biển Đông và đã vẽ hơn
10 tấm bản đồ khu vực hành chính các đảo ở đây.
Học giả Trung Quốc nghiên
cứu các chứng cứ lịch sử mà Việt Nam đã đưa ra thì thấy rằng một số địa danh
trong các tài liệu lịch sử của Việt Nam thực ra không phải là địa danh của một
số đảo, đá ở Biển Đông, mà là địa danh của một số đảo, đá nằm gần bờ Việt Nam.
Do đó, đây là một cách nói sai lầm, gây hiểu lầm cho dư luận và giới học giả
quốc tế.
Ông không đồng tình quan điểm này như thế nào?
Tôi từng nghe rồi, đã nhiều lần
họ khẳng định quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa là những đảo ven bờ biển miền Trung
Việt Nam.
Chúng ta cũng đã nhiều lần chỉ rõ những sai trái trong cách tiếp cận
vấn đề của họ. Làm gì có đảo nào là Hữu Nhật, Quang Ảnh, Quang Hòa, Lưỡi Liềm,
An Vĩnh, làm gì có đảo nào là Song Tử tây, Song Tử đông, Thị Tứ, Tiên Nữ v.v...
nằm ven bờ biển miền Trung Việt Nam?
Các tài liệu, bản đồ của Âu, Á…đã trả lời
khá rõ điều này!
Nếu là nhà khoa học, nhà nghiên cứu, học giả thực thụ chắc chắn
không có cách tiếp cận như vậy!