Tương tự như vậy đối với biển Đông khi Phó phòng Chính sách Đối
ngoại thuộc Vụ Châu Á của Bộ Ngoại giao Trung Quốc Zheng Zhenhua khẳng
định
"những hòn đảo trong khu vực đã có người Trung Quốc sinh sống từ
thời Đông Hán (năm 23 tới năm 220 sau Công nguyên)"
và rằng
"người Trung
Quốc đã thiết lập một kiểu chính phủ "giống với hiện tại" từ thời Tống
(năm 420 tới năm 478 sau Công nguyên)"
như là một bằng chứng cho chủ
quyền không thể chối cãi của Trung Quốc" đối với những khu vực mà nước
này yêu sách tại Biển Đông.
Hơn nữa, Bắc Kinh cho rằng từ năm 1947 và qua suốt những
năm của thập niên 1960, không có quốc gia nào, bao gồm cả Hoa Kỳ, "từng
nêu câu hỏi hoặc nghi ngờ về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần
đảo Hoàng Sa và Trường Sa"
Nhưng về thực chất, Trung Quốc vẫn không có bất cứ một dẫn
chứng cụ thể nào để chứng minh cho lập luận của mình, đặc biệt là về dẫn
chứng lịch sử. Họ dựa vào những câu nói trong các tác phẩm lịch sử cổ
để lại mà ngôn từ trong những tác phẩm đó rất mơ hồ và nhiều khi cũng bị
làm cho sai lệch về ý nghĩa hay thêm thắt câu chữ, khiến cho người
không am hiểu dễ bị lầm tưởng.
Và việc viện dẫn không có nước nào phản đối lại càng vô lý
hơn khi trên thực tế, ngay từ Hội nghị San Francisco tháng 9/1951, không
một quốc gia tham gia Hội nghị nào đồng ý trao trả hai quần đảo Hoàng
Sa và Trường Sa của Việt Nam cho Trung Quốc cả, mà thực ra là do Pháp
quản lý mà sau đó Việt Nam là nước kế thừa, và kể từ khi "đường lưỡi bò"
được Bắc Kinh đưa ra thì ngay sau đó Việt Nam và một số nước ASEAN như
Philippines và Indonesia đều đã gửi Công hàm phản đổi lên Liên Hợp Quốc.
Còn ở Bắc Cực, mặc dù không thể sử dụng khái niệm "vùng
nước lịch sử" do Bắc Cực và vùng nước xung quanh hiện được coi là vùng
biển quốc tế và không thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào và Trung
Quốc cũng chả liên quan gì về mặt địa lý nhưng nước này lại lên tiếng
đòi chủ quyền một cách trắng trợn.
Thậm chí Trung Quốc còn đặt câu hỏi và yêu cầu được làm rõ
về các đòi hỏi chủ quyền của các nước thành viên trong Hội đồng Bắc Cực -
vốn là các nước giáp ranh Bắc Cực và đang tranh chấp chủ quyền chủ yếu
tại Bắc Cực hiện nay như Nga, Na Uy, Đan Mạch, Canada, Mỹ, Thụy Điển,
Iceland, Phần Lan.
Qua đó cho ta thấy dù ở bất cứ đâu, Bắc Cực, Trường
Sa-Hoàng Sa hay Điếu Ngư, Trung Quốc đều bất chấp tất cả để tuyên bố chủ
quyền với những lập luận hết sức vô lý.
Yêu sách về vùng Đặc quyền kinh tế (EEZ)
Nhưng đó chỉ mới là bước dạo đầu của tham vọng, Trung Quốc
còn đi xa hơn với các yêu sách về EEZ của mình.
Đầu tiên là tước đi
quyền tự do hàng hải của các quốc gia khác trên vùng đặc quyền kinh tế
rộng 880000 km2 của nước này khi tuyên bố các quốc gia khác cần phải xin
phép Trung Quốc để được thực hiện "quyền tự do hàng hải", đây là yêu
sách về chủ quyền với EEZ như đối với lãnh hải.
Thiệt hại những tưởng đã
rất lớn nhưng vẫn chưa phải là tất cả khi Trung Quốc còn yêu sách cho
tất cả các đảo, đá và quần đảo của mình có đầy đủ chế độ của lãnh thổ
đất liền.
Theo đó, tất cả các đảo, đá và quần đảo của Trung Quốc đều
có lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế EEZ, mà không phân biệt đảo, đá đó
phù hợp quy định chế độ đảo của UNCLOS hay không và nếu trong vùng đặc
quyền kinh tế của các đảo đó có một đảo khác thì đảo này sẽ thuộc chủ
quyền của Trung Quốc và lại tiếp tục được hưởng chế độ pháp lý đảo như
lãnh thổ đất liền.
Việc "nối chủ quyền" này đã đe dọa cướp đi các vùng biển
thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia khác tại Biển Đông
khi không chỉ những đảo của các nước khác nằm trong khu vực 200 hải lý
xung quanh các đảo của Trung Quốc sẽ bị Trung Quốc coi là đảo của mình
một cách trắng trợn.
Hơn thế nữa, ranh giới đường lưỡi bò cũng sẽ được mở rộng
hơn 80% biển Đông và thậm chí chỉ cách một số bờ biển của các nước
Philippines, Việt Nam,... vài chục km.
Đối với Senkaku, Trung Quốc cũng thể hiện sự tham lam khi
muốn phân chia theo hướng vùng EEZ của mình phải mở rộng ra về phía đông
tiếp nối vùng thềm lục địa Trung Quốc, ăn sâu vào vùng EEZ của Nhật Bản
theo đường phân chia ở chính giữa eo biển hai nước.
Trong khi xét đến
vùng đặc quyền kinh tế EEZ thì về mặt vị trí địa lý thì quần đảo
Senkaku/Điếu Ngư cách Trung Quốc khoảng 200 hải lý về phía đông, cách
Nhật Bản cũng khoảng 200 hải lý tính từ Okinawa. Nhưng do bề ngang biển
Hoa Đông chỉ có 360 hải lý nên vùng đặc quyền kinh tế EEZ của hai quốc
gia này đã chồng lấn lên nhau.
Thay vì cố gắng đàm phán để cân bằng lợi
ích cho cả hai thì Trung Quốc lại muốn lấn sang cả vùng đặc quyền kinh
tế của Nhật Bản.
Hơn nữa, mặc dù quần đảo Senkaku/Điếu Ngư đều là các đảo
đá, nằm trên thềm đá nên không có nguồn nước ngọt, lại dốc đứng nên việc
khẳng định có người ở là điều không tưởng, nhưng Bắc Kinh vẫn khăng
khăng về việc có người Trung Quốc từng sinh sống ở các đảo thuộc quần
đảo Senkaku/Điếu Ngư.
Mục đích là để yêu sách tất cả các đảo, đá của
Senkaku có quy chế và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) như lãnh thổ đất
liền, phục vụ cho chiêu bài "nối chủ quyền".
Tuy nhiên, phương thức lập luận trên chứa đựng nhiều mâu
thuẫn.
Trong khi chính Trung Quốc đã vi phạm nghiêm trọng luật quốc tế
khi tước đi quyền "tự do hàng hải" trên các vùng đặc quyền kinh tế EEZ
của nước mình, thì chính nước này cũng lại "vác loa" đi yêu cầu "tự do
hàng hải" ở Bắc Cực.
Với Biển Đông và Senkaku/Điếu Ngư thì Trung Quốc
lại ra sức đòi chủ quyền EEZ, nhưng tại Bắc Cực, Trung Quốc lái tuyên bố
của mình theo hướng muốn Bắc Cực cùng với các tuyến hàng hải, nguồn dầu
mỏ, khoáng sản và nguồn cá tại đó phải mang quy chế lãnh thổ quốc tế,
phải là di sản chung của nhân loại.
Xét về bản chất tranh chấp chủ
quyền, cả ba khu vực đều gần như nhau.
Vì thế có thể thấy Trung Quốc hết
sức "kì lạ" trong những yêu sách của mình.
Đây được xem là những đòi hỏi hết sức vô lý.
Nó đặc biệt
mâu thuẫn nếu không muốn nói là trái ngược hoàn toàn khi đem ra so sánh
với những lập luận cho yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông.
Khi Trung
Quốc liên tục tuyên bố mình có chủ quyền "cố hữu" từ "thời xa xưa" trên
Biển Đông, quyết tâm không cho các nước khác "quốc tế hóa" vấn đề này,
ra sức giải quyết bằng đàm phán song phương, trong khi ở Bắc Cực thì lại
ra sức "quốc tế hóa".
Cùng một bản chất tranh chấp mà Trung Quốc lại có
hai quan điểm khác nhau ở hai khu vực.
Có thể giải thích rằng vì tại
Bắc Cực khi hai ông lớn như Nga, Mỹ có liên quan trực tiếp thì Trung
Quốc biết rõ mình không thể nắm thế thượng phong.
Cho đến chính sách tiếp cận
Và sự mâu thuẫn của Trung Quốc thể hiện rõ nhất trongchính
sách tiếp cận ở các khu vực khi nước này luôn "nói một đằng làm một
nẻo".
Tại biển Đông, sự chèn ép của Trung Quốc với các nước láng
giềng nhỏ yếu cực kì rõ ràng.
Từ quan điểm đàm phán song phương cho tới
sự hai mặt trong hành động khi một mặt thì luôn thể hiện rằng Trung Quốc
tuân thủ luật pháp một cách "nghiêm túc", luôn kêu gọi các nước kiềm
chế, không gây thêm căng thẳng; mặt khác thì lại đơn phương cấm đánh bắt
cá tại biển Đông, bắt bớ tàu cá các nước, kêu gọi mời thầu các lô dầu
khí thuộc vùng Đặc quyền kinh tế của Việt Nam và cho tàu tới chiếm bãi
cạn Scarborough của Philippines,...
Tại Senkaku/Điếu Ngư, khi nước tranh chấp là một cường quốc
trong khu vực, đặc biệt lại là đồng minh thân cận của Mỹ, thì Trung
Quốc hành xử có phần "nhỏ nhẹ" hơn.
Trong thời gian diễn ra tranh chấp,
Trung Quốc liên tục cho tàu hải giám, tàu ngư chính "tuần tra" ở khu vực
quần đảo Senkaku/Điếu Ngư một cách "thận trọng và ôn hòa". Không có
những hành động ngang ngược như cấm đánh bắt cá, ngang nhiên mời thầu
như ở Biển Đông. Dù thường tổ chức tập trận, nhưng Trung Quốc cũng không
dám đưa bất cứ tàu chiến nào vào vùng đặc quyền kinh tế chồng lấn với
Nhật Bản.
Còn ở Bắc Cực, Trung Quốc đã cho xây dựng trạm nghiên cứu
khoa học đầu tiên với diện tích 500m2 với 4 phòng thí nghiệm tại
Spitsbergen.
Đến năm 2009 Trung Quốc lại thành lập Trung tâm nghiên cứu
khoa học vùng cực trên cơ sở cơ quan chuyên trách trước đó với số nhân
lực 230 người. Hiện Trung Quốc đã nộp đơn xin làm quan sát viên Hội đồng
Bắc Cực từ lâu nhằm tìm kiếm tiếng nói và tính "hợp danh" của mình
trong việc yêu sách chủ quyền Bắc Cực.
Các bước đi của Trung Quốc rất từ
tốn và có phần nhún nhường, không còn hình ảnh ngang ngược, gây hấn bất
chấp Luật pháp quốc tế như ở biển Đông. Bởi tranh chấp ở Bắc Cực có sự
tham gia của rất nhiều cường quốc, đặc biệt là hai cường quốc quân sự
hàng đầu thế giới là Mỹ và Nga.
Dù vậy, giáo sư lịch sử David Wright
của Đại học Calgary cũng như nhiều nhà phân tích khác đã dự đoán rằng
trong tương lai Bắc Kinh sẽ trở nên quyết đoán và cứng rắn hơn trong vấn
đề Bắc Cực.
Tóm lại, có thể thấy một điều rằng, chính sách chủ quyền và
cách diễn giải UNCLOS của Trung Quốc phụ thuộc rất nhiều vào khả năng
sử dụng sức mạnh của nước này trong khu vực.
Như tại biển Đông, khi đối
đầu với các nước Đông Nam Á nhỏ yếu, Trung Quốc luôn khẳng định chủ
quyền tuyệt đối của mình với hơn 80% diện tích biển Đông và đưa ra các
bước đi xác quyết chủ quyền đầy ngang ngược như bắt tàu cá, cấm khai
thác, đưa tàu đến chiếm đảo,....
Nhưng đối với Điếu Ngư, khi tranh chấp
với Nhật Bản là một cường quốc trong khu vực thì giọng điệu và hành vi
của Trung Quốc khác hẳn, không còn là kẻ hiếu chiến luôn sẵn sàng bắt
nạt người khác, thay vào đó là các bước đi thận trong hơn.
Và đối với
Bắc Cực, Trung Quốc dường như rơi vào vị thế của Philippines và Việt Nam
khi đối đầu với Trung Quốc tại biển Đông, hoàn toàn lép vế trước Mỹ và
Nga.
Chính sách của Trung Quốc tạo ra cảm giác là chỗ nào có khả
năng kiểm soát thì đòi hỏi chủ quyền, chèn ép người khác; chỗ nào yếu
thế hơn về lực thì đòi dựa vào luật quốc tế, đòi lợi ích theo ý mình,
mặc dù không có cơ sở pháp lý cho sự đòi hỏi đó.
Một Trung Quốc không
những mâu thuẫn về lời nói, mà còn cả phương thức hành động đang dần dần
lộ diện.